Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2022

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 229

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 77

 

“Cả hai ngã cố khum mình lại

Vạch lá cây ngần ngại chui vào

Châu liêm ba bức khi nào

Rồng leo cột vẽ rì rào vách tô

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 228

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 75

 

“Ngư tiều thấy lính lôi lão sãi

Nghề thày chùa ngang trái nhiễu nhương

Oản xôi tham của cúng rường

Mắm tôm thịt chó hại người hiền lương

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 227

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 73

 

“Lang Tam mặt xanh rờn đít nhái

Tội trạng này ngược trái thiên luân

Khai từ ông nội bất nhân

Bán rao thuốc bắc nửa phần điêu ngoa

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 226

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 71

 

“Trở tay biến phép y bất lực

Nhiệt lạ thường tới mức thân hàn

Khi hư lúc thực mê man

Nóng lâu nhức nhối lấn tràn đậu lên

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 225

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 69

 

“Rừng văn biển học mù sương phủ

Đấng tài hoa chẳng phụ tấm lòng

Chân nhân luyện hạt gieo trồng

Tuy ngồi một chỗ hanh thông đất trời

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 224

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 67

 

“Rung hạt lệ xót xa cây cỏ

Trời đất sầu kim cổ khóc than

Kính thày Sư Miện đằng vân

Chiếu, thềm chớp giật thánh nhân cảm lòng

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 223

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 65

 

“Dân bị ép tận cùng dầu mỡ

Khô xác ve nức nở đọa đày

Mưa dầm nắng dãi lắt lay

Tan đàn sẻ nghé đắng cay nỗi niềm

 

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 222

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 63

 

“Đơì chiến quốc tranh tài vương bá

Danh chẳng sờn sắt đá kinh luân

Như ông Qủy Cốc ẩn thân

Học trò tuấn kiệt non gần đỉnh xa“

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 221

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 61

 

“Trẻ ấu thơ mặn mòi cá nước

Đức hiếu sinh thao thức lòng trời

Tổ sư bào chế cứu đời

Bệnh nào thuốc ấy rạch ròi xưa nay

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 220

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 59

 

“Phép coi gái hữu trai bên tả

Trỏ lóng ba ngón ngả ba quan

Phong quan lóng gốc thế gian

Lóng nhì ải khí ba bàn mệnh quan

 

Vằn xanh ngang gió can quá mức

Bỗng đỏ vằn nóng nực ran mình

Vằn xanh đỏ loạn chứng kinh

Vằn hồng bợt nhạt ấm mình bụng đau

 

Vằn lóng gốc trị mau khỏi bệnh

Phải nhanh tay chớ chểnh mảng lâu

Vằn qua ngón giữa chuyển mầu

Hơi tà chạy đến càng rẫu rĩ than

 

Bắn lên trảo, giáp nan giải lắm

Chứng nguy này thê thảm hài nhi

Vằn đen như mực loạn bì

Lấn vào ba ải đông y hoảng rồi

 

Biết chừng ấy mà thôi chẳng rõ

Còn cách nào đâu đó bệnh tình

Môn rằng: Con trẻ mới sinh

Máu hơi còn yếu mạch hình khó coi

 

Giáp năm cũng có người mắc chứng

Thật đớn đau đi đứng hay ngồi

Xem ra bệnh đã nặng rồi

Gân xương mạch lạc lần hồi mở ra

 

Kỳ Nhân Sư nhi khoa giỏi trị

Khí sắc coi vị trí mạch kinh

Tướng xem trên huyệt Tình minh

Thấy trong tạng phủ bệnh tình chữa ngay

 

Xem ngón tay bấy nay biếng nhác

Thày rờ xem mạch Sác có không

Sác cùng chẳng sác coi ròng

Sác cao bốc nhiệt sác không khí hàn

 

Một ngón tay thong dong ba mạch

Hơi thở đều tách bạch điều hòa

Hai lần là thoát chẳng ngoa

Ba lần là thốt  nhạt nhòa mồ hôi

 

Bốn lần tổn than ôi năm đó

Gọi là hư chăng chớ vấn vương

Sáu lần không bệnh bình thường

Bảy lần bệnh nhẹ tám đương cận cài

 

Từ chín đến mười hai sẽ chết

Phép coi này nhất thiết tinh thông

Ngư bàn sách ấy thuần dương

Về phần trẻ nhỏ bệnh thường nhiệt dâm

 

Tiểu nhi ca tình thâm nòi giống

Bệnh trẻ con kinh động thống phong

Tich đờm cổ họng không thông

Cam sài giun sán mênh mông vô cùng

 

Sao kể hết chập chùng biển cả

Kiếp con người vàng đá phôi phai

Khen cho con tạo cắm cài

Âm dương kín chữ trần ai muôn hình.

 

Bài này xin miễn bình giảng dài dòng. Tôi không có thời gian sức lực để viết miên man mô tả kỹ càng từng căn bệnh, tôi là thi nhân chứ không phải là một đại phu, nho y, đông y hay bác sĩ. Mục đích chính là để tiện đăng tải thơ Lu Hà  được Thu Hà diễn ngâm trên Youtube và Facebook.

 

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 60

 

“Ngư suy ngẫm âm tinh thấu đặng

Chữ âm này để tặng tiểu nhi

Chờ ngày thiên quý tới kỳ

Tinh thông sáng tỏ đền nghì âm dương

 

Sách ghi rõ thông thường bổ dưỡng

Đọc kỹ thì thuận nhượng thơ ngây

Tính âm luận ngữ chưa đầy

Trẻ con người lớn bệnh gây chẳng đồng

 

Vốn chẳng hại bên trong tình bảy

Sáu dâm kia hết thảy luận tà

Một mai ngoại cảm chẳng qua

Cam, kinh, thổ, tả, tích hòa trường đông

 

Thời hàn cảm thử phong tích nhiệt

Đậu chẩn sang cấp thiết đơn ban

Cản ngăn tạp bệnh lan tràn

Có mười lăm chứng nguy nan rập rình

 

Ta đơn cử tử sinh cụ thể

Mạch chẩn chờ xin kể ra đây

Trên mi mắt nổi vằn dây

Đỏ lừ chạy suốt lấp đầy con ngươi

 

Sưng mỏ ác phù nơi dưới ngực

Kể cả khi đau nhức phập phồng

Mũi khô đen sạm bụng gồng

Gân xanh chằng chịt lộn tròng mắt lên

 

Nhìn không chuyển thường xuyên đờ đẫn

Móng sạm đen chen lấn chân tay

Đột nhiên mất tiếng ai hay

Lưỡi thè ngoài miệng nhớt nhày chảy ra

 

Trẻ nghiến răng kêu la hay cắn

Thở phì phò ỉa rặn phân chim

Ngáp như cá, bỗng im lìm

Giun thò miệng mũi bóng chìm hồn ma

 

Chết tức tưởi mẹ cha bất lực

Thày thuốc càng ráng sức cứu người

Than ôi, mười đứa chết mười

Bệnh này khó chữa cảnh đời thê lương

 

Mười sáu chứng khác thường khinh trọng

Bệnh chứng này trông ngóng nhiều phương

Chẳng qua hư thực hai đường

Chứng hư chứng thực từng chương rạch ròi

 

Chẳng sai ngoa hẳn hoi công luận

Mười bệnh thường lấn bấn mãi hoài

Chín hư một thực gái trai

Ví như đầu tháng dằng dai vẫn còn

 

Khắp muôn nơi trăng non ló rạng

Mở lòng gương thực trạng chưa ra

Dạng tròn vành vạch sơn hà

Bổ nhiều, tả ít, theo tà thực hư

 

Thuốc nhi khoa nhẫn từ sư tổ

Để ngày nay chứng tỏ mọi đằng

Cao thâm y thuật thung thăng

Cảm ơn liệt vị cung hằng sáng soi “

 

Tôi đã sưu tầm một bài viết rất hay của một người nào đó trên Google, không rõ tên tuổi đã giới thiệu qua về tác phẩm “Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp“ làm nguồn cảm hứng cho tập thơ “Y Đức Hai Họ Mộng Bào“ của tôi:

 

Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Ông Ngư, ông Tiều hỏi đáp về thuật chữa bệnh) là truyện thơ dài của cụ Nguyễn Đình Chiểu.

 

Hai nhân vật chính của truyện, Bào Tử Phược và Mộng Thê Triền vì gặp cảnh mất nước nên đã đi ở ẩn làm ngư, làm tiều, sau đó gặp được Đạo Dẫn, Nhập Môn và Kỳ Nhân Sư truyền cho y thuật trị bệnh cứu đời.

 

Cụ Nguyễn Đình Chiểu sinh trưởng giữa lúc thực dân Pháp đang xâm lược Việt Nam. Năm 1858, chúng đánh hải cảng Đà Nẵng. Năm 1859, đánh Gia Định. Hồi ấy ông đang dạy học ở Gia Định, phải chạy về quê vợ ở Cần Giuộc (gần Chợ Lớn) lánh nạn và tiếp tục dạy học ở đó. Năm 1861, Cần Giuộc cũng bị quân Pháp chiếm, ông lại phải chạy về Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Năm 1862, triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, Vua Tự Đức cắt ba tỉnh miền Đông nhượng cho Pháp. Tuy vậy Pháp vẫn tiếp tục mưu đồ xâm lược. Năm 1867, chúng chiếm luôn cả ba tỉnh còn lại của Lục Tỉnh thuộc Nam Kỳ. Vậy là cả Lục Tỉnh Nam Kỳ bị Pháp đô hộ.

 

Cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng như hầu hết đồng bào miền Nam lúc bấy giờ vô cùng căm phẫn. Ông rất đau xót về tình cảnh đất nước bị chia cắt, nhân dân khổ cực nhiều bề: phần bị giặc tàn sát, đàn áp, bức hiếp, phần bị đói rét, bệnh tật, chết chóc… Ông vì bị mù, không thể cầm vũ khí giết giặc, nên dùng bút thay gươm, viết văn làm thơ để nói lên lòng yêu nước thương dân và nỗi oán hận của mình đối với quân cướp nước và triều đình nhà Nguyễn nhu nhược.

 

“Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật” ra đời vào khoảng thời gian sau khi Nam Kỳ đã bị Pháp xâm chiếm. Trong tác phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu đã mượn bối cảnh của đất nước U, Yên ở Trung Hoa đời xưa bị ngoại bang xâm chiếm, dựng lên câu chuyện mấy người dân xứ này đi lánh nạn và cũng tìm thầy học thuốc, để dưới hình thức nói chuyện về y học, thổ lộ lòng căm phẫn của mình đối với thời cuộc, nhằm cổ súy tinh thần đấu tranh chống xâm lăng của đồng bào, đồng thời cũng để nói lên sự lưu tâm của mình đối với tính mạng của bệnh nhân trước tình cảnh các dung y vụ lợi, nhằm bổ cứu tình trạng y học đương thời.

 

 

 Tóm tắt nội dung tác phẩm:

 

a. Bối cảnh: Vào khoảng năm 936, đất U, Yên ở Trung Hoa, do Thạch Kính Đường là quan Đô Hộ Sứ của nhà Đường, cai trị. Thạch Kính Đường thông mưu với quân Khiết Đan nước Liêu, cắt đất nhượng cho Khiết Đan, để được Khiết Đan phong cho làm vua xứ này. Dân U, Yên rơi vào tình cảnh lầm than dưới ách đô hộ của ngoại bang và dưới sự áp bức của bè lũ gian nịnh bù nhìn trong nước. Những người có tâm huyết không khuất phục chế độ ấy. Một số phiêu bạt đi nơi khác để sinh sống và tìm cách cứu nước, cứu dân. Trong số người này, có những nhân vật đã đi tìm con đường y học và cùng gặp nhau trên đường đi tìm thầy học thuốc:

b. Nhân vật:

– Mộng Thê Triền (tức là Tiều), làm nghề đốn củi (tiều phu).

– Bảo Tử Phược (tức là Ngư) làm nghề chài lưới (ngư ông),

– Đạo Dẫn và Nhập Môn là những người đã biết thuốc, cùng đi chạy loạn và tìm thầy học thêm,

 

– Nhân Sư là người thầy thuốc nổi tiếng ở U, Yên đi lánh, không muốn hợp tác với giặc.

 

c. Cốt truyện: Vì tình cảnh đất U, Yên bị chia cắt và đặt dưới sự đô hộ của ngoại bang nên Mộng Thê Triền và Bảo Tử Phược đi làm nghề đốn củi, đánh cá mưu sinh. Chẳng may vợ con bị ốm đau nhiều và chết chóc, nên cả hai người đều muốn đi tìm thầy học thuốc. Họ đều có ý định đi tìm Nhân Sư là một thầy thuốc rất giỏi và cũng là người đất U, Yên đi ẩn cư. Mộng Thê Triền và Bảo Tử Phược là hai người bạn cũ, bị hoàn cảnh loạn ly mà xa cách nhau từ lâu, gặp lại nhau trên đường đi tìm Nhân Sư. Dọc đường họ gặp thêm hai bạn cũ có cùng mục đích là Đạo Dẫn và Nhập Môn. Cả mấy người cùng dắt nhau đi tìm Nhân Sư. Đạo Dẫn và Nhập Môn là những người đã biết chỗ ở của Nhân Sư. Vì họ đã đều biết thuốc, nên trên đường đi Ngư, Tiều hỏi chuyện về y học rất nhiều. Đạo Dẫn và Nhập Môn lần lượt trả lời những câu hỏi của Ngư, Tiều và giải thích một cách rõ ràng nhiều điểm về lý luận y học cơ bản, kèm theo ca, phú mà phần chính lấy ở y học nhập môn ra.

 

Giữa đường, Đạo Dẫn tìm đường đi luyện đan (tu Tiên), còn Ngư, Tiều thì theo Nhập Môn tiếp tục đi đến Đan Kỳ để tìm Nhân Sư, Nhưng khi đến nơi thì Nhân Sư đang bị bệnh và lánh ở Thiên Thai, song họ được gặp lại Đạo Dẫn ở đây. Hỏi ra mới biết là Nhân Sư không phải là bị bệnh thật mà là vì vua Liêu nghe tiếng cho sứ đến mời Nhân Sư vào làm Ngự Y, nhưng Nhân Sư không muốn làm tôi kẻ thù nên đã xông hai mắt cho mù, rồi lánh về ở Thiên Thai và lưu học trò là Đạo Dẫn ở lại Đạo Kỳ để từ chối với sứ Tây Liêu.

 

Ngư, Tiều không được gặp Nhân Sư và cũng không ở lại để đợi Nhân Sư trở về. Nhưng Nhân Sư đã để lại hai bài dạy phép dùng thuốc (một bài luận về tiêu bản, một bài nói về phép chữa tạp bệnh). Ngư, Tiều lãnh hai bài đó rồi trở về. Sau khi từ biệt Đạo Dẫn và Nhập Môn; Ngư, Tiều dự định sẽ bỏ nghề cũ để đi làm nghề y. Đêm đi lạc đường trong rừng, vào ngủ ở một cái miếu trong hang, nằm mê mộng thấy xử án các thầy thuốc: Thầy châm cứu chữa xằng; Thầy pháp, thầy chùa gieo rắc mê tín dị đoan…

 

Tỉnh ra Ngư, Tiều mới biết đó là những lời răn, nên khi về nhà, cả hai người đều ra công học thuốc cho thật giỏi, thấu đáo, rồi chuyên mỗi người một khoa. Ngư chữa bệnh nhi khoa, Tiều chữa bệnh phụ khoa. Họ đều trở nên những thầy thuốc lành nghề và chân chính.

 

8.5.2020 Lu Hà

 

 

 

 

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 219

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 57

 

“Tiều mới hỏi chửa thời rồi đẻ

Bởi cớ sao còn kẻ oán than

Nhân sinh sao lắm gian nan

Tự nhiên xúc vật bình an hơn người

 

Môn cho rằng cảnh đời lỗi đạo

Chẳng kiêng dè bợm trạo sinh nhai

Đàn bà vô ý mang thai

Trách trời oán đất đơn sai tại mình

 

Thuốc phụ khoa thánh minh căn dặn

Phải tuân theo đều đặn thường xuyên

Bảy điều sư tổ từng khuyên

Giữ thân né tránh sầu miên nhọc nhằn

 

Chớ xông pha săn văn công việc

Khí huyết tăng bày biện linh tinh

Hai là tới trước kỳ sinh

Dăm ba ngày sẽ thình lình trở thai

 

Điều thứ ba ép nài ăn uống

Khiến thai nhi to tướng béo phì

Thứ tư dâm dục tù tì

Chăn loan gối phụng tỉ ti ái tình

 

Thành lao lực đốt tinh phá khí

Bào khô khan dị nghị xa gần

Mặc cho âm hộ rộng dần

Lăng xăng thăm hỏi gây phần loạn sinh

 

Thứ năm ngại sợ mình thai động

Chữ ưu nghi lại lộng vào thân

Khiến ai vấn bốc tần ngần

Sản hoàng hai chữ bần thần não nhân

 

Nghe mụ đỡ rặn khan vội vã

Khiến con ra ngược cả bụng cương

Sáu là nguy hại nội thương

Phều phào ốm yếu mình thường thiếu hơi

 

Nguồn khô cạn rặn hơi quá sớm

Con khó ra lại chớm máu tươi

Bảy phần phận sự chơi vơi

Sách y ghi chép tới nơi tận tình

 

Cõi nhân gian tử sinh hợp lẽ

Theo luật trời nặng nhẹ phân minh

Truyền thừa xem pháp tướng tinh

Mặt chừng là mẹ lưỡi hình dáng con

 

Mặt tươi tắn vuông tròn lưỡi thắm

Lưỡi thâm khô ảm đạm mặt xanh

Giá băng mẹ chết thôi đành

Lưỡi xanh mặt đỏ con thành hồn ma

 

Mặt xanh lưỡi đỏ là mẹ sống

Còn lưỡi xanh mặt đỏ giống nòi tiêu

Hài nhi thất thểu phiêu diêu

Hồn mây thê thảm bóng chiều tịch dương

 

Phép y lý mạch tường sáng tỏ

Phương pháp nào chỉ rõ cho hay

Tiều rằng mạng sống trong tay

Ngàn cân sợi tóc gió bay lá vàng“

 

 

 

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 58

 

“Đường Nhập Môn vẻ vang sản hậu

Một khoa riêng trần cấu bấy nay

Tổ sư có lắm vị hay

Chứng nào thuốc ấy uống ngay khỏi liền

 

Nghe tâm pháp thày truyền hậu thế

Nguyên ba điều ta kể ra đây

Một là máu trống hỏa đầy

Cuồng kinh nóng táo thân gầy xác xơ

 

Chứng bại huyết bơ phờ mệt nhọc

Vọng hành tăng kêu khóc đầu đau

Chân tay bụng cứng bám nhau

Ăn nhiều uống lắm trước sau tới cùng

 

Hay nôn mửa ba xung ba cấp

Chiếu chăn thành hầm hập rên la

Xung vì bại huyết mà ra

Xung tâm, xung phế thật là thảm thương

 

Cấp mới đẻ thê lương phiền não

Thổ tả càng nhệu nhạo mùi hôi

Tổ xưa dùng thuốc chữa rồi

Có ba việc cấm than ôi tạc lòng

 

Thang phật thủ xin mong đừng bốc

Vị xuyên khung cực độc chẳng lành

Xuyên khung tán khí đã đành

Lại hay phát hãn rắp ranh hư nhèm

 

Thang tứ vật hay kèm trong thuốc

Địa hoàng quen thược dược dụng sinh

Chẳng hiềm sống lạnh máu kinh

Ngặt thời phải dụng chín mình chế đi

 

Khí huyết suy sau khi chửa đẻ

Thược dược chua lạnh sẻ tửu sao

Cấm dùng thang tiểu sài hồ

Hoàng cầm tính mát ngăn hồ huyết đi

 

Bệnh dày vò tật di dơ dáy

Lời huấn kinh thày dạy chớ quên

Mấy mùi dược tính chẳng hiền

Chớ cho xâm nhập vào miền tam tiêu

 

Biểu chứng phạm bao điều giả tượng

Có rất nhiều hình tướng y thư

Xưa nay có mấy tôn sư

Trị khoa hậu sản như từ Đan Khê

 

Dòng Chu tử hành nghề tỏ rõ

Đẻ về sau khá bổ máu hơi

Gốc làm mạch chủ thảnh thơi

Quản chi tạp chứng về nơi ngọn ngành

 

Thật cao minh ngọn xanh bền gốc

Bá thuật cùng thuốc bốc thiên uyên

Ngợi khen mạch quyết lưu truyền

Bao người sản hậu nhân duyên mất còn

 

Ngư lại hỏi trẻ con lẫm chẫm

Một hai ba tuổi nhẩm chưa đầy

Đau thời coi hổ khẩu tay

Cho hay thực chỉ vằn bày chứng cai.“

 

 

Dòng Chu Tử nghĩa là Bách Gia Chư Tử theo sư phụ Google diễn giải là những dòng triết lý và tư tưởng cổ đại nở rộ trong thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc.

 

Đây là thời kỳ hoàng kim của triết học Trung Quốc vì rất nhiều hệ thống triết lý và tư tưởng được phát triển và bàn luận một cách tự do. Hiện tượng này được gọi là trăm nhà tranh tiếng "bách gia tranh minh“

Thời kỳ này kết thúc bởi sự nổi lên của nhà Tần và sự đàn áp các tư tưởng khác biệt sau đó.

Khổng Tử, người sáng lập Khổng giáo, có ảnh hưởng rất lớn tới hệ tư tưởng của Trung Quốc và Đông Á.

Lão Tử: Vào những năm cuối thời nhà Chu, từ cuối thời Xuân Thu tới khi Trung Hoa được nhà Tần thống nhất, hệ thống tư tưởng ở Trung Hoa bước vào giai đoạn nở rộ nhất. Gương mặt quan trọng nhất trong thời kỳ này chính là Khổng Tử, người sáng lập Nho giáo. Ông đã lập ra một triết lý đạo đức chặt chẽ không sa đà vào những suy luận siêu hình. Mục đích của ông là cải tổ triều đình, nhờ thế có thể chăm sóc dân chúng tốt hơn.

 

Một nhà triết học khác là Lão Tử, cũng tìm cách cải cách chính quyền, nhưng triết học của ông ít có tính ứng dụng hơn. Ông được cho là người sáng lập Đạo giáo, với giáo lý căn bản là tuân theo Đạo. Trong khi Khổng giáo chủ trương tuân theo đạo trời bằng cách phải sống tích cực nhưng có đức, Đạo giáo khuyên không nên can thiệp và phấn đấu. Người thứ hai góp phần phát triển Đạo giáo chính là Trang Tử. Ông cũng dạy một triết lý gần tương tự. Tuy nhiên, cả hai không tin rằng Đạo có thể giải thích được bằng lời, vì vậy sách của họ mâu thuẫn và thường rất khó hiểu.

 

Trường phái lớn thứ ba là Mặc Tử, người cũng tìm cách cải cách triều đình để đảm bảo đời sống cho người dân. Tuy nhiên, ông tin rằng nguyên nhân căn bản của mọi tai họa và khốn cùng của con người là do yêu người này mà ghét người kia, và vì vậy ông giảng giải thuyết kiêm ái: Thông thường, người ta với những người có quan hệ gần gũi ta đối xử với họ khác hơn so với một người hoàn toàn xa lạ. Mặc Tử tin rằng chúng ta phải đối xử với tất cả mọi người như đối với người thân nhất của chúng ta vậy. Nếu tất cả chúng ta đều làm như thế, những thứ như chiến tranh và đói nghèo sẽ biến mất.

 

Một trường phái lớn khác là Pháp gia. Xuất phát từ một nhánh của Khổng giáo, Pháp gia tin rằng con người vốn bản tính ác và chỉ vị kỷ. Kiểu triều đình tốt nhất và đóng góp nhiều nhất cho phúc lợi nhân dân sẽ là một triều đình kiểm soát chặt chẽ các bản năng của con người. Triều đình này sẽ cai trị bằng những pháp luật cứng rắn và chặt chẽ; sự trừng phạt sẽ nghiêm khắc và nhanh chóng. Lòng tin vào việc cai trị bằng pháp luật là lý do tại sao họ được gọi là Pháp gia.

 

Không trường phái nào trong số trên( vốn đều có mục tiêu thay đổi triều đình) gây ảnh hưởng lớn tới nhà Chu. Triều đình đầu tiên chấp nhận một trong những tư tưởng trên là triều đình nhà Tần. Họ chọn Pháp gia. Kết quả thật bạo tàn, nhưng những sáng tạo của trường phái Pháp gia nhà Tần đã trở thành cốt lõi của các triều đình Trung Hoa sau đó.

 

Pháp gia: Những chủ trương cai trị không dựa trên tình cảm và theo cách độc đoán của Tuân Tử. Ông đã được phát triển thành một học thuyết là hiện thân của Trường phái pháp luật Pháp gia.

 

Học thuyết này được Thương Ưởng, Hàn Phi Tử và Lý Tư thành lập, họ cho rằng bản tính con người là ích kỷ và không thể sửa đổi được; vì thế, cách duy nhất để giữ trật tự xã hội là áp đặt kỷ luật từ bên trên, và tăng cường pháp luật một cách chặt chẽ. Phái pháp gia đề cao nhà nước trên mọi thứ khác, coi sự thịnh vượng và quyền lực quân sự của nhà nước quan trọng hơn hạnh phúc của người dân.

 

Pháp gia đã có ảnh hưởng lớn tới những căn bản triết học cho các hình thức chính phủ đế quốc. Trong thời nhà Hán, những yếu tố thiết thực nhất của Khổng giáo và Pháp gia đã được sử dụng để tạo nên một hình thái tổng hợp.

Đạo giáo: Thời nhà Chu là một giai đoạn chứng kiến sự phát triển của Đạo giáo luồng tư tưởng có ảnh hưởng lớn thứ hai ở Trung Quốc. Những hệ thống của nó thường được cho là của Lão Tử, người được cho là ra đời trước Khổng Tử, và Trang Tử . Mục đích của Đạo giáo là cá nhân bên trong tự nhiên chứ không phải là cá nhân ở trong xã hội; theo Đạo giáo, mục đích cuộc sống đối với mỗi người là tìm cách điều chỉnh mình và hòa nhập với nhịp điệu của tự nhiên (và thế giới siêu nhiên), để theo đúng (Đạo) của vũ trụ, để sống hài hoà. Nó đối lập về nhiều mặt với chủ nghĩa đạo đức cứng nhắc của Khổng giáo. Đạo giáo đối với nhiều tín đồ là một cách bổ sung vào cuộc sống hàng ngày. Một học giả khi là một vị quan phải theo những lời răn dạy của Khổng giáo, nhưng những lúc thư nhàn hay khi đã về hưu thì có thể tìm kiếm sự hòa hợp với thiên nhiên như một người Đạo giáo ẩn dật.

 

Âm Dương gia: Một khuynh hướng tư tưởng khác thời Chiến Quốc là Trường phái Âm - Dương và Ngũ hành. Là một nhánh được tách ra từ Đạo gia. Những học thuyết đó cố gắng giải thích vũ trụ theo những thuật ngữ của những lực lượng căn bản trong tự nhiên: những tác nhân của âm (tối, lạnh, phụ nữ, phủ định) và dương (ánh sáng, nóng, đàn ông, khẳng định) và Ngũ hành (nước, lửa, gỗ, kim loại, và đất). Khi mới xuất hiện, các học thuyết này được phát triển ở nước Yên và Tề. Về sau, những học thuyết nhận thức luận này chiếm một phần đáng kể trong cả triết học và đức tin của dân chúng.

 

Mặc gia: Mặc gia được thành lập theo học thuyết của Mặc Tử. Mặc dù trường phái này chỉ tồn tại trước thời nhà Tần, Mặc học vẫn được coi là một phe đối lập chính với Khổng giáo trong giai đoạn Bách gia chư tử. Triết học của nó dựa trên ý tưởng kiêm ái: Mặc Tử tin rằng "tất cả mọi người đều bình đẳng trước thượng đế", và rằng con người phải học theo trời bằng cách thực hiện thuyết kiêm ái (yêu quý mọi người như nhau). Nhận thức luận của ông có thể được coi là những căn bản đầu tiên của chủ nghĩa kinh nghiệm; ông tin rằng nhận thức của chúng ta phải dựa trên năng lực tri giác – những kinh nghiệm giác quan của chúng ta, như nhìn và nghe – chứ không phải tưởng tượng và logíc nội tại, là những yếu tố tạo nên khả năng trừu tượng của chúng ta.

 

Mặc Tử biện hộ cho tính thanh đạm, lên án sự nhấn mạnh của Khổng giáo đối với đạo đức và nhạc, mà ông coi là phung phí. Ông coi chiến tranh là vô ích và ủng hộ hòa bình. Việc hoàn thành các mục tiêu xã hội, theo Mặc tử, là cần phải thống nhất tư tưởng và hành động. Triết lý chính trị của ông ủng hộ một chính thể quân chủ giống với sự cai trị của thần thánh: dân chúng phải luôn luôn vâng lời những người lãnh đạo, và những người lãnh đạo phải luôn theo ý nguyện của trời. Mặc học có thể có những yếu tố của chế độ nhân tài: Mặc Tử cho rằng những nhà cai trị phải chỉ định ra những quan chức theo phẩm hạnh và khả năng chứ không phải vì những mối quan hệ gia đình của họ. Mặc dù lòng tin của dân chúng vào Mặc gia đã giảm sút từ cuối thời Tần, những quan điểm của nó vẫn còn để lại dấu ấn trong tư tưởng Pháp gia.

 

Danh gia là một trường phái phát sinh từ Mặc Gia, với một triết lý được cho rằng tương tự với triết lý của người Hy lạp cổ đại là những nhà ngụy biện hay biện chứng. Nổi tiếng nhất trong Danh Gia là Công Tôn Long.

 

Binh gia là trường phái của các nhà quân sự: tướng lĩnh và nhà tư tưởng quân sự. Binh gia có các đại diện: Tôn Vũ, người nước Ngô (còn gọi là Tôn Tử) với tác phẩm Tôn Tử binh pháp; Điền Nhương Thư, người nước Tề (còn gọi là Tư Mã Điền Nhương Thư), tác phẩm: Tư Mã pháp; Ngô Khởi, người nước Lỗ, với cuốn Ngô Tử binh pháp, người đời sau so sánh ông với Tôn Tử, trở thành đại diện cho Binh gia, cho nên có câu "Binh pháp Tôn Ngô"... Những tác phẩm của họ đã gây ảnh hưởng lớn tới các Binh gia đời sau như: Tôn Tẫn (nước Tề), Bàng Quyên (nước Ngụy), Uý Liêu (nước Tần),...

 

Trong thời loạn lạc, Pháp gia và Tung Hoành gia có giá trị thực dụng. Nho gia nói "nhân nghĩa", Mặc gia bảo "kiêm ái" thì chưa được công nhận rộng rãi. Còn Đạo gia nói "vô vi" rất siêu thường là một cảnh giới rất cao dùng để tu luyện giống như Phật giáo chỉ là hai môn phái Phật Đạo khác nhau mà thôi.

 

Như vậy, các tư tưởng trên nói chung đều có mục đích khiến xã tắc yên ổn, thiên hạ thái bình để quốc gia phát triển phồn vinh. Nhưng cách thức thì khác nhau: Nho gia lấy nhân nghĩa làm gốc giúp con người hướng thiện, Pháp gia dùng hình phạt để răn đe làm người ta sợ hãi mà không dám làm loạn.

 

7.5.2020 Lu Hà