Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 77
“Cả hai ngã cố khum mình lại
Vạch lá cây ngần ngại chui vào
Châu liêm ba bức khi nào
Rồng leo cột vẽ rì rào vách tô
thodautranhbanluanxahoi.blogspot.com Những ai tôi tin tưởng, được sự ủy nhiệm của tôi có thể in thành sách hay đăng tải thơ văn của tôi lên mạng để nhằm phổ biến tình cảm tâm hồn của tôi với đồng bào với tổ quốc Việt Nam và những ai đó có thể đọc được chữ Việt Nam. Về lâu về dài cũng là để lưu truyền cho hậu thế, tránh sự nhầm lẫn mạo nhận tên tuổi của tôi, sau khi tôi đã trở về quê hương vĩnh hằng.
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 77
“Cả hai ngã cố khum mình lại
Vạch lá cây ngần ngại chui vào
Châu liêm ba bức khi nào
Rồng leo cột vẽ rì rào vách tô
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 75
“Ngư tiều thấy lính lôi lão sãi
Nghề thày chùa ngang trái nhiễu nhương
Oản xôi tham của cúng rường
Mắm tôm thịt chó hại người hiền lương
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 73
“Lang Tam mặt xanh rờn đít nhái
Tội trạng này ngược trái thiên luân
Khai từ ông nội bất nhân
Bán rao thuốc bắc nửa phần điêu ngoa
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 71
“Trở tay biến phép y bất lực
Nhiệt lạ thường tới mức thân hàn
Khi hư lúc thực mê man
Nóng lâu nhức nhối lấn tràn đậu lên
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 69
“Rừng văn biển học mù sương phủ
Đấng tài hoa chẳng phụ tấm lòng
Chân nhân luyện hạt gieo trồng
Tuy ngồi một chỗ hanh thông đất trời
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 67
“Rung hạt lệ xót xa cây cỏ
Trời đất sầu kim cổ khóc than
Kính thày Sư Miện đằng vân
Chiếu, thềm chớp giật thánh nhân cảm lòng
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 65
“Dân bị ép tận cùng dầu mỡ
Khô xác ve nức nở đọa đày
Mưa dầm nắng dãi lắt lay
Tan đàn sẻ nghé đắng cay nỗi niềm
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 63
“Đơì chiến quốc tranh tài vương bá
Danh chẳng sờn sắt đá kinh luân
Như ông Qủy Cốc ẩn thân
Học trò tuấn kiệt non gần đỉnh xa“
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 61
“Trẻ ấu thơ mặn mòi cá nước
Đức hiếu sinh thao thức lòng trời
Tổ sư bào chế cứu đời
Bệnh nào thuốc ấy rạch ròi xưa nay
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 59
“Phép coi gái hữu trai bên tả
Trỏ lóng ba ngón ngả ba quan
Phong quan lóng gốc thế gian
Lóng nhì ải khí ba bàn mệnh quan
Vằn xanh ngang gió can quá mức
Bỗng đỏ vằn nóng nực ran mình
Vằn xanh đỏ loạn chứng kinh
Vằn hồng bợt nhạt ấm mình bụng đau
Vằn lóng gốc trị mau khỏi bệnh
Phải nhanh tay chớ chểnh mảng lâu
Vằn qua ngón giữa chuyển mầu
Hơi tà chạy đến càng rẫu rĩ than
Bắn lên trảo, giáp nan giải lắm
Chứng nguy này thê thảm hài nhi
Vằn đen như mực loạn bì
Lấn vào ba ải đông y hoảng rồi
Biết chừng ấy mà thôi chẳng rõ
Còn cách nào đâu đó bệnh tình
Môn rằng: Con trẻ mới sinh
Máu hơi còn yếu mạch hình khó coi
Giáp năm cũng có người mắc chứng
Thật đớn đau đi đứng hay ngồi
Xem ra bệnh đã nặng rồi
Gân xương mạch lạc lần hồi mở ra
Kỳ Nhân Sư nhi khoa giỏi trị
Khí sắc coi vị trí mạch kinh
Tướng xem trên huyệt Tình minh
Thấy trong tạng phủ bệnh tình chữa ngay
Xem ngón tay bấy nay biếng nhác
Thày rờ xem mạch Sác có không
Sác cùng chẳng sác coi ròng
Sác cao bốc nhiệt sác không khí hàn
Một ngón tay thong dong ba mạch
Hơi thở đều tách bạch điều hòa
Hai lần là thoát chẳng ngoa
Ba lần là thốt nhạt
nhòa mồ hôi
Bốn lần tổn than ôi năm đó
Gọi là hư chăng chớ vấn vương
Sáu lần không bệnh bình thường
Bảy lần bệnh nhẹ tám đương cận cài
Từ chín đến mười hai sẽ chết
Phép coi này nhất thiết tinh thông
Ngư bàn sách ấy thuần dương
Về phần trẻ nhỏ bệnh thường nhiệt dâm
Tiểu nhi ca tình thâm nòi giống
Bệnh trẻ con kinh động thống phong
Tich đờm cổ họng không thông
Cam sài giun sán mênh mông vô cùng
Sao kể hết chập chùng biển cả
Kiếp con người vàng đá phôi phai
Khen cho con tạo cắm cài
Âm dương kín chữ trần ai muôn hình.
Bài này xin miễn bình giảng dài dòng. Tôi không có thời gian
sức lực để viết miên man mô tả kỹ càng từng căn bệnh, tôi là thi nhân chứ không
phải là một đại phu, nho y, đông y hay bác sĩ. Mục đích chính là để tiện đăng tải
thơ Lu Hà được Thu Hà diễn ngâm trên
Youtube và Facebook.
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 60
“Ngư suy ngẫm âm tinh thấu đặng
Chữ âm này để tặng tiểu nhi
Chờ ngày thiên quý tới kỳ
Tinh thông sáng tỏ đền nghì âm dương
Sách ghi rõ thông thường bổ dưỡng
Đọc kỹ thì thuận nhượng thơ ngây
Tính âm luận ngữ chưa đầy
Trẻ con người lớn bệnh gây chẳng đồng
Vốn chẳng hại bên trong tình bảy
Sáu dâm kia hết thảy luận tà
Một mai ngoại cảm chẳng qua
Cam, kinh, thổ, tả, tích hòa trường đông
Thời hàn cảm thử phong tích nhiệt
Đậu chẩn sang cấp thiết đơn ban
Cản ngăn tạp bệnh lan tràn
Có mười lăm chứng nguy nan rập rình
Ta đơn cử tử sinh cụ thể
Mạch chẩn chờ xin kể ra đây
Trên mi mắt nổi vằn dây
Đỏ lừ chạy suốt lấp đầy con ngươi
Sưng mỏ ác phù nơi dưới ngực
Kể cả khi đau nhức phập phồng
Mũi khô đen sạm bụng gồng
Gân xanh chằng chịt lộn tròng mắt lên
Nhìn không chuyển thường xuyên đờ đẫn
Móng sạm đen chen lấn chân tay
Đột nhiên mất tiếng ai hay
Lưỡi thè ngoài miệng nhớt nhày chảy ra
Trẻ nghiến răng kêu la hay cắn
Thở phì phò ỉa rặn phân chim
Ngáp như cá, bỗng im lìm
Giun thò miệng mũi bóng chìm hồn ma
Chết tức tưởi mẹ cha bất lực
Thày thuốc càng ráng sức cứu người
Than ôi, mười đứa chết mười
Bệnh này khó chữa cảnh đời thê lương
Mười sáu chứng khác thường khinh trọng
Bệnh chứng này trông ngóng nhiều phương
Chẳng qua hư thực hai đường
Chứng hư chứng thực từng chương rạch ròi
Chẳng sai ngoa hẳn hoi công luận
Mười bệnh thường lấn bấn mãi hoài
Chín hư một thực gái trai
Ví như đầu tháng dằng dai vẫn còn
Khắp muôn nơi trăng non ló rạng
Mở lòng gương thực trạng chưa ra
Dạng tròn vành vạch sơn hà
Bổ nhiều, tả ít, theo tà thực hư
Thuốc nhi khoa nhẫn từ sư tổ
Để ngày nay chứng tỏ mọi đằng
Cao thâm y thuật thung thăng
Cảm ơn liệt vị cung hằng sáng soi “
Tôi đã sưu tầm một bài viết rất hay của một người nào đó trên
Google, không rõ tên tuổi đã giới thiệu qua về tác phẩm “Ngư Tiều Y Thuật Vấn
Đáp“ làm nguồn cảm hứng cho tập thơ “Y Đức Hai Họ Mộng Bào“ của tôi:
Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Ông Ngư, ông Tiều hỏi đáp về thuật
chữa bệnh) là truyện thơ dài của cụ Nguyễn Đình Chiểu.
Hai nhân vật chính của truyện, Bào Tử Phược và Mộng Thê
Triền vì gặp cảnh mất nước nên đã đi ở ẩn làm ngư, làm tiều, sau đó gặp được Đạo
Dẫn, Nhập Môn và Kỳ Nhân Sư truyền cho y thuật trị bệnh cứu đời.
Cụ Nguyễn Đình Chiểu sinh trưởng giữa lúc thực dân Pháp
đang xâm lược Việt Nam. Năm 1858, chúng đánh hải cảng Đà Nẵng. Năm 1859, đánh
Gia Định. Hồi ấy ông đang dạy học ở Gia Định, phải chạy về quê vợ ở Cần Giuộc
(gần Chợ Lớn) lánh nạn và tiếp tục dạy học ở đó. Năm 1861, Cần Giuộc cũng bị
quân Pháp chiếm, ông lại phải chạy về Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Năm 1862, triều
đình nhà Nguyễn đầu hàng, Vua Tự Đức cắt ba tỉnh miền Đông nhượng cho Pháp. Tuy
vậy Pháp vẫn tiếp tục mưu đồ xâm lược. Năm 1867, chúng chiếm luôn cả ba tỉnh
còn lại của Lục Tỉnh thuộc Nam Kỳ. Vậy là cả Lục Tỉnh Nam Kỳ bị Pháp đô hộ.
Cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng như hầu hết đồng bào miền Nam
lúc bấy giờ vô cùng căm phẫn. Ông rất đau xót về tình cảnh đất nước bị chia cắt,
nhân dân khổ cực nhiều bề: phần bị giặc tàn sát, đàn áp, bức hiếp, phần bị đói
rét, bệnh tật, chết chóc… Ông vì bị mù, không thể cầm vũ khí giết giặc, nên
dùng bút thay gươm, viết văn làm thơ để nói lên lòng yêu nước thương dân và nỗi
oán hận của mình đối với quân cướp nước và triều đình nhà Nguyễn nhu nhược.
“Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật” ra đời vào khoảng thời gian sau
khi Nam Kỳ đã bị Pháp xâm chiếm. Trong tác phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu đã mượn
bối cảnh của đất nước U, Yên ở Trung Hoa đời xưa bị ngoại bang xâm chiếm, dựng
lên câu chuyện mấy người dân xứ này đi lánh nạn và cũng tìm thầy học thuốc, để
dưới hình thức nói chuyện về y học, thổ lộ lòng căm phẫn của mình đối với thời
cuộc, nhằm cổ súy tinh thần đấu tranh chống xâm lăng của đồng bào, đồng thời
cũng để nói lên sự lưu tâm của mình đối với tính mạng của bệnh nhân trước tình
cảnh các dung y vụ lợi, nhằm bổ cứu tình trạng y học đương thời.
Tóm tắt nội dung
tác phẩm:
a. Bối cảnh: Vào khoảng năm 936, đất U, Yên ở Trung Hoa,
do Thạch Kính Đường là quan Đô Hộ Sứ của nhà Đường, cai trị. Thạch Kính Đường
thông mưu với quân Khiết Đan nước Liêu, cắt đất nhượng cho Khiết Đan, để được
Khiết Đan phong cho làm vua xứ này. Dân U, Yên rơi vào tình cảnh lầm than dưới
ách đô hộ của ngoại bang và dưới sự áp bức của bè lũ gian nịnh bù nhìn trong nước.
Những người có tâm huyết không khuất phục chế độ ấy. Một số phiêu bạt đi nơi
khác để sinh sống và tìm cách cứu nước, cứu dân. Trong số người này, có những
nhân vật đã đi tìm con đường y học và cùng gặp nhau trên đường đi tìm thầy học
thuốc:
b. Nhân vật:
– Mộng Thê Triền (tức là Tiều), làm nghề đốn củi (tiều
phu).
– Bảo Tử Phược (tức là Ngư) làm nghề chài lưới (ngư ông),
– Đạo Dẫn và Nhập Môn là những người đã biết thuốc, cùng
đi chạy loạn và tìm thầy học thêm,
– Nhân Sư là người thầy thuốc nổi tiếng ở U, Yên đi lánh,
không muốn hợp tác với giặc.
c. Cốt truyện: Vì tình cảnh đất U, Yên bị chia cắt và đặt
dưới sự đô hộ của ngoại bang nên Mộng Thê Triền và Bảo Tử Phược đi làm nghề đốn
củi, đánh cá mưu sinh. Chẳng may vợ con bị ốm đau nhiều và chết chóc, nên cả
hai người đều muốn đi tìm thầy học thuốc. Họ đều có ý định đi tìm Nhân Sư là một
thầy thuốc rất giỏi và cũng là người đất U, Yên đi ẩn cư. Mộng Thê Triền và Bảo
Tử Phược là hai người bạn cũ, bị hoàn cảnh loạn ly mà xa cách nhau từ lâu, gặp
lại nhau trên đường đi tìm Nhân Sư. Dọc đường họ gặp thêm hai bạn cũ có cùng mục
đích là Đạo Dẫn và Nhập Môn. Cả mấy người cùng dắt nhau đi tìm Nhân Sư. Đạo Dẫn
và Nhập Môn là những người đã biết chỗ ở của Nhân Sư. Vì họ đã đều biết thuốc,
nên trên đường đi Ngư, Tiều hỏi chuyện về y học rất nhiều. Đạo Dẫn và Nhập Môn
lần lượt trả lời những câu hỏi của Ngư, Tiều và giải thích một cách rõ ràng nhiều
điểm về lý luận y học cơ bản, kèm theo ca, phú mà phần chính lấy ở y học nhập
môn ra.
Giữa đường, Đạo Dẫn tìm đường đi luyện đan (tu Tiên), còn
Ngư, Tiều thì theo Nhập Môn tiếp tục đi đến Đan Kỳ để tìm Nhân Sư, Nhưng khi đến
nơi thì Nhân Sư đang bị bệnh và lánh ở Thiên Thai, song họ được gặp lại Đạo Dẫn
ở đây. Hỏi ra mới biết là Nhân Sư không phải là bị bệnh thật mà là vì vua Liêu
nghe tiếng cho sứ đến mời Nhân Sư vào làm Ngự Y, nhưng Nhân Sư không muốn làm
tôi kẻ thù nên đã xông hai mắt cho mù, rồi lánh về ở Thiên Thai và lưu học trò
là Đạo Dẫn ở lại Đạo Kỳ để từ chối với sứ Tây Liêu.
Ngư, Tiều không được gặp Nhân Sư và cũng không ở lại để đợi
Nhân Sư trở về. Nhưng Nhân Sư đã để lại hai bài dạy phép dùng thuốc (một bài luận
về tiêu bản, một bài nói về phép chữa tạp bệnh). Ngư, Tiều lãnh hai bài đó rồi
trở về. Sau khi từ biệt Đạo Dẫn và Nhập Môn; Ngư, Tiều dự định sẽ bỏ nghề cũ để
đi làm nghề y. Đêm đi lạc đường trong rừng, vào ngủ ở một cái miếu trong hang,
nằm mê mộng thấy xử án các thầy thuốc: Thầy châm cứu chữa xằng; Thầy pháp, thầy
chùa gieo rắc mê tín dị đoan…
Tỉnh ra Ngư, Tiều mới biết đó là những lời răn, nên khi về
nhà, cả hai người đều ra công học thuốc cho thật giỏi, thấu đáo, rồi chuyên mỗi
người một khoa. Ngư chữa bệnh nhi khoa, Tiều chữa bệnh phụ khoa. Họ đều trở nên
những thầy thuốc lành nghề và chân chính.
8.5.2020
Lu Hà
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 57
“Tiều mới hỏi chửa thời rồi đẻ
Bởi cớ sao còn kẻ oán than
Nhân sinh sao lắm gian nan
Tự nhiên xúc vật bình an hơn người
Môn cho rằng cảnh đời lỗi đạo
Chẳng kiêng dè bợm trạo sinh nhai
Đàn bà vô ý mang thai
Trách trời oán đất đơn sai tại mình
Thuốc phụ khoa thánh minh căn dặn
Phải tuân theo đều đặn thường xuyên
Bảy điều sư tổ từng khuyên
Giữ thân né tránh sầu miên nhọc nhằn
Chớ xông pha săn văn công việc
Khí huyết tăng bày biện linh tinh
Hai là tới trước kỳ sinh
Dăm ba ngày sẽ thình lình trở thai
Điều thứ ba ép nài ăn uống
Khiến thai nhi to tướng béo phì
Thứ tư dâm dục tù tì
Chăn loan gối phụng tỉ ti ái tình
Thành lao lực đốt tinh phá khí
Bào khô khan dị nghị xa gần
Mặc cho âm hộ rộng dần
Lăng xăng thăm hỏi gây phần loạn sinh
Thứ năm ngại sợ mình thai động
Chữ ưu nghi lại lộng vào thân
Khiến ai vấn bốc tần ngần
Sản hoàng hai chữ bần thần não nhân
Nghe mụ đỡ rặn khan vội vã
Khiến con ra ngược cả bụng cương
Sáu là nguy hại nội thương
Phều phào ốm yếu mình thường thiếu hơi
Nguồn khô cạn rặn hơi quá sớm
Con khó ra lại chớm máu tươi
Bảy phần phận sự chơi vơi
Sách y ghi chép tới nơi tận tình
Cõi nhân gian tử sinh hợp lẽ
Theo luật trời nặng nhẹ phân minh
Truyền thừa xem pháp tướng tinh
Mặt chừng là mẹ lưỡi hình dáng con
Mặt tươi tắn vuông tròn lưỡi thắm
Lưỡi thâm khô ảm đạm mặt xanh
Giá băng mẹ chết thôi đành
Lưỡi xanh mặt đỏ con thành hồn ma
Mặt xanh lưỡi đỏ là mẹ sống
Còn lưỡi xanh mặt đỏ giống nòi tiêu
Hài nhi thất thểu phiêu diêu
Hồn mây thê thảm bóng chiều tịch dương
Phép y lý mạch tường sáng tỏ
Phương pháp nào chỉ rõ cho hay
Tiều rằng mạng sống trong tay
Ngàn cân sợi tóc gió bay lá vàng“
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 58
“Đường Nhập Môn vẻ vang sản hậu
Một khoa riêng trần cấu bấy nay
Tổ sư có lắm vị hay
Chứng nào thuốc ấy uống ngay khỏi liền
Nghe tâm pháp thày truyền hậu thế
Nguyên ba điều ta kể ra đây
Một là máu trống hỏa đầy
Cuồng kinh nóng táo thân gầy xác xơ
Chứng bại huyết bơ phờ mệt nhọc
Vọng hành tăng kêu khóc đầu đau
Chân tay bụng cứng bám nhau
Ăn nhiều uống lắm trước sau tới cùng
Hay nôn mửa ba xung ba cấp
Chiếu chăn thành hầm hập rên la
Xung vì bại huyết mà ra
Xung tâm, xung phế thật là thảm thương
Cấp mới đẻ thê lương phiền não
Thổ tả càng nhệu nhạo mùi hôi
Tổ xưa dùng thuốc chữa rồi
Có ba việc cấm than ôi tạc lòng
Thang phật thủ xin mong đừng bốc
Vị xuyên khung cực độc chẳng lành
Xuyên khung tán khí đã đành
Lại hay phát hãn rắp ranh hư nhèm
Thang tứ vật hay kèm trong thuốc
Địa hoàng quen thược dược dụng sinh
Chẳng hiềm sống lạnh máu kinh
Ngặt thời phải dụng chín mình chế đi
Khí huyết suy sau khi chửa đẻ
Thược dược chua lạnh sẻ tửu sao
Cấm dùng thang tiểu sài hồ
Hoàng cầm tính mát ngăn hồ huyết đi
Bệnh dày vò tật di dơ dáy
Lời huấn kinh thày dạy chớ quên
Mấy mùi dược tính chẳng hiền
Chớ cho xâm nhập vào miền tam tiêu
Biểu chứng phạm bao điều giả tượng
Có rất nhiều hình tướng y thư
Xưa nay có mấy tôn sư
Trị khoa hậu sản như từ Đan Khê
Dòng Chu tử hành nghề tỏ rõ
Đẻ về sau khá bổ máu hơi
Gốc làm mạch chủ thảnh thơi
Quản chi tạp chứng về nơi ngọn ngành
Thật cao minh ngọn xanh bền gốc
Bá thuật cùng thuốc bốc thiên uyên
Ngợi khen mạch quyết lưu truyền
Bao người sản hậu nhân duyên mất còn
Ngư lại hỏi trẻ con lẫm chẫm
Một hai ba tuổi nhẩm chưa đầy
Đau thời coi hổ khẩu tay
Cho hay thực chỉ vằn bày chứng cai.“
Dòng Chu Tử nghĩa là Bách Gia Chư Tử theo sư phụ Google diễn
giải là những dòng triết lý và tư tưởng cổ đại nở rộ trong thời kỳ Xuân Thu và
Chiến Quốc.
Đây là thời kỳ hoàng kim của triết học Trung Quốc vì rất
nhiều hệ thống triết lý và tư tưởng được phát triển và bàn luận một cách tự do.
Hiện tượng này được gọi là trăm nhà tranh tiếng "bách gia tranh minh“
Thời kỳ này kết thúc bởi sự nổi lên của nhà Tần và sự đàn
áp các tư tưởng khác biệt sau đó.
Khổng Tử, người sáng lập Khổng giáo, có ảnh hưởng rất lớn
tới hệ tư tưởng của Trung Quốc và Đông Á.
Lão Tử: Vào những năm cuối thời nhà Chu, từ cuối thời Xuân
Thu tới khi Trung Hoa được nhà Tần thống nhất, hệ thống tư tưởng ở Trung Hoa bước
vào giai đoạn nở rộ nhất. Gương mặt quan trọng nhất trong thời kỳ này chính là
Khổng Tử, người sáng lập Nho giáo. Ông đã lập ra một triết lý đạo đức chặt chẽ
không sa đà vào những suy luận siêu hình. Mục đích của ông là cải tổ triều
đình, nhờ thế có thể chăm sóc dân chúng tốt hơn.
Một nhà triết học khác là Lão Tử, cũng tìm cách cải cách
chính quyền, nhưng triết học của ông ít có tính ứng dụng hơn. Ông được cho là
người sáng lập Đạo giáo, với giáo lý căn bản là tuân theo Đạo. Trong khi Khổng
giáo chủ trương tuân theo đạo trời bằng cách phải sống tích cực nhưng có đức, Đạo
giáo khuyên không nên can thiệp và phấn đấu. Người thứ hai góp phần phát triển
Đạo giáo chính là Trang Tử. Ông cũng dạy một triết lý gần tương tự. Tuy nhiên,
cả hai không tin rằng Đạo có thể giải thích được bằng lời, vì vậy sách của họ
mâu thuẫn và thường rất khó hiểu.
Trường phái lớn thứ ba là Mặc Tử, người cũng tìm cách cải
cách triều đình để đảm bảo đời sống cho người dân. Tuy nhiên, ông tin rằng
nguyên nhân căn bản của mọi tai họa và khốn cùng của con người là do yêu người
này mà ghét người kia, và vì vậy ông giảng giải thuyết kiêm ái: Thông thường,
người ta với những người có quan hệ gần gũi ta đối xử với họ khác hơn so với một
người hoàn toàn xa lạ. Mặc Tử tin rằng chúng ta phải đối xử với tất cả mọi người
như đối với người thân nhất của chúng ta vậy. Nếu tất cả chúng ta đều làm như
thế, những thứ như chiến tranh và đói nghèo sẽ biến mất.
Một trường phái lớn khác là Pháp gia. Xuất phát từ một
nhánh của Khổng giáo, Pháp gia tin rằng con người vốn bản tính ác và chỉ vị kỷ.
Kiểu triều đình tốt nhất và đóng góp nhiều nhất cho phúc lợi nhân dân sẽ là một
triều đình kiểm soát chặt chẽ các bản năng của con người. Triều đình này sẽ cai
trị bằng những pháp luật cứng rắn và chặt chẽ; sự trừng phạt sẽ nghiêm khắc và
nhanh chóng. Lòng tin vào việc cai trị bằng pháp luật là lý do tại sao họ được
gọi là Pháp gia.
Không trường phái nào trong số trên( vốn đều có mục tiêu
thay đổi triều đình) gây ảnh hưởng lớn tới nhà Chu. Triều đình đầu tiên chấp nhận
một trong những tư tưởng trên là triều đình nhà Tần. Họ chọn Pháp gia. Kết quả
thật bạo tàn, nhưng những sáng tạo của trường phái Pháp gia nhà Tần đã trở
thành cốt lõi của các triều đình Trung Hoa sau đó.
Pháp gia: Những chủ trương cai trị không dựa trên tình cảm
và theo cách độc đoán của Tuân Tử. Ông đã được phát triển thành một học thuyết
là hiện thân của Trường phái pháp luật Pháp gia.
Học thuyết này được Thương Ưởng, Hàn Phi Tử và Lý Tư thành
lập, họ cho rằng bản tính con người là ích kỷ và không thể sửa đổi được; vì thế,
cách duy nhất để giữ trật tự xã hội là áp đặt kỷ luật từ bên trên, và tăng cường
pháp luật một cách chặt chẽ. Phái pháp gia đề cao nhà nước trên mọi thứ khác,
coi sự thịnh vượng và quyền lực quân sự của nhà nước quan trọng hơn hạnh phúc của
người dân.
Pháp gia đã có ảnh hưởng lớn tới những căn bản triết học
cho các hình thức chính phủ đế quốc. Trong thời nhà Hán, những yếu tố thiết thực
nhất của Khổng giáo và Pháp gia đã được sử dụng để tạo nên một hình thái tổng hợp.
Đạo giáo: Thời nhà Chu là một giai đoạn chứng kiến sự phát
triển của Đạo giáo luồng tư tưởng có ảnh hưởng lớn thứ hai ở Trung Quốc. Những
hệ thống của nó thường được cho là của Lão Tử, người được cho là ra đời trước
Khổng Tử, và Trang Tử . Mục đích của Đạo giáo là cá nhân bên trong tự nhiên chứ
không phải là cá nhân ở trong xã hội; theo Đạo giáo, mục đích cuộc sống đối với
mỗi người là tìm cách điều chỉnh mình và hòa nhập với nhịp điệu của tự nhiên
(và thế giới siêu nhiên), để theo đúng (Đạo) của vũ trụ, để sống hài hoà. Nó đối
lập về nhiều mặt với chủ nghĩa đạo đức cứng nhắc của Khổng giáo. Đạo giáo đối với
nhiều tín đồ là một cách bổ sung vào cuộc sống hàng ngày. Một học giả khi là một
vị quan phải theo những lời răn dạy của Khổng giáo, nhưng những lúc thư nhàn
hay khi đã về hưu thì có thể tìm kiếm sự hòa hợp với thiên nhiên như một người
Đạo giáo ẩn dật.
Âm Dương gia: Một khuynh hướng tư tưởng khác thời Chiến Quốc
là Trường phái Âm - Dương và Ngũ hành. Là một nhánh được tách ra từ Đạo gia. Những
học thuyết đó cố gắng giải thích vũ trụ theo những thuật ngữ của những lực lượng
căn bản trong tự nhiên: những tác nhân của âm (tối, lạnh, phụ nữ, phủ định) và
dương (ánh sáng, nóng, đàn ông, khẳng định) và Ngũ hành (nước, lửa, gỗ, kim loại,
và đất). Khi mới xuất hiện, các học thuyết này được phát triển ở nước Yên và Tề.
Về sau, những học thuyết nhận thức luận này chiếm một phần đáng kể trong cả triết
học và đức tin của dân chúng.
Mặc gia: Mặc gia được thành lập theo học thuyết của Mặc Tử.
Mặc dù trường phái này chỉ tồn tại trước thời nhà Tần, Mặc học vẫn được coi là
một phe đối lập chính với Khổng giáo trong giai đoạn Bách gia chư tử. Triết học
của nó dựa trên ý tưởng kiêm ái: Mặc Tử tin rằng "tất cả mọi người đều
bình đẳng trước thượng đế", và rằng con người phải học theo trời bằng cách
thực hiện thuyết kiêm ái (yêu quý mọi người như nhau). Nhận thức luận của ông
có thể được coi là những căn bản đầu tiên của chủ nghĩa kinh nghiệm; ông tin rằng
nhận thức của chúng ta phải dựa trên năng lực tri giác – những kinh nghiệm giác
quan của chúng ta, như nhìn và nghe – chứ không phải tưởng tượng và logíc nội tại,
là những yếu tố tạo nên khả năng trừu tượng của chúng ta.
Mặc Tử biện hộ cho tính thanh đạm, lên án sự nhấn mạnh của
Khổng giáo đối với đạo đức và nhạc, mà ông coi là phung phí. Ông coi chiến
tranh là vô ích và ủng hộ hòa bình. Việc hoàn thành các mục tiêu xã hội, theo Mặc
tử, là cần phải thống nhất tư tưởng và hành động. Triết lý chính trị của ông ủng
hộ một chính thể quân chủ giống với sự cai trị của thần thánh: dân chúng phải
luôn luôn vâng lời những người lãnh đạo, và những người lãnh đạo phải luôn theo
ý nguyện của trời. Mặc học có thể có những yếu tố của chế độ nhân tài: Mặc Tử
cho rằng những nhà cai trị phải chỉ định ra những quan chức theo phẩm hạnh và
khả năng chứ không phải vì những mối quan hệ gia đình của họ. Mặc dù lòng tin của
dân chúng vào Mặc gia đã giảm sút từ cuối thời Tần, những quan điểm của nó vẫn
còn để lại dấu ấn trong tư tưởng Pháp gia.
Danh gia là một trường phái phát sinh từ Mặc Gia, với một
triết lý được cho rằng tương tự với triết lý của người Hy lạp cổ đại là những
nhà ngụy biện hay biện chứng. Nổi tiếng nhất trong Danh Gia là Công Tôn Long.
Binh gia là trường phái của các nhà quân sự: tướng lĩnh và
nhà tư tưởng quân sự. Binh gia có các đại diện: Tôn Vũ, người nước Ngô (còn gọi
là Tôn Tử) với tác phẩm Tôn Tử binh pháp; Điền Nhương Thư, người nước Tề (còn gọi
là Tư Mã Điền Nhương Thư), tác phẩm: Tư Mã pháp; Ngô Khởi, người nước Lỗ, với
cuốn Ngô Tử binh pháp, người đời sau so sánh ông với Tôn Tử, trở thành đại diện
cho Binh gia, cho nên có câu "Binh pháp Tôn Ngô"... Những tác phẩm của
họ đã gây ảnh hưởng lớn tới các Binh gia đời sau như: Tôn Tẫn (nước Tề), Bàng
Quyên (nước Ngụy), Uý Liêu (nước Tần),...
Trong thời loạn lạc, Pháp gia và Tung Hoành gia có giá trị
thực dụng. Nho gia nói "nhân nghĩa", Mặc gia bảo "kiêm ái"
thì chưa được công nhận rộng rãi. Còn Đạo gia nói "vô vi" rất siêu
thường là một cảnh giới rất cao dùng để tu luyện giống như Phật giáo chỉ là hai
môn phái Phật Đạo khác nhau mà thôi.
Như vậy, các tư tưởng trên nói chung đều có mục đích khiến
xã tắc yên ổn, thiên hạ thái bình để quốc gia phát triển phồn vinh. Nhưng cách
thức thì khác nhau: Nho gia lấy nhân nghĩa làm gốc giúp con người hướng thiện,
Pháp gia dùng hình phạt để răn đe làm người ta sợ hãi mà không dám làm loạn.
7.5.2020 Lu Hà